PDA

View Full Version : Cơ bản về ASP.Net cho người mới bắt đầu


admin
05-17-2009, 07:00 PM
ASP.NET - EM LÀ AI?


Trước hết, họ tên của ASP.NET là Active Server Pages .NET (.NET ở đây là .NET framework). Nói đơn giản, ngắn và gọn th́ ASP.NET là một công nghệ có tính cách mạng dùng để phát triển các ứng dụng về mạng hiện nay cũng như trong tương lai (ASP.NET is a revolutionary technology for developing web applications). Bạn lưu ư ở chổ ASP.NET là một phương pháp tổ chức hay khung tổ chức (framework) để thiết lập các ứng dụng hết sức hùng mạnh cho mạng dựa trên CLR (Common Language Runtime) chứ không phải là một ngôn ngữ lập tŕnh. Ngôn ngữ lập tŕnh được dùng để diển đạt ASP.NET trong khóa này là VB.NET (Visual Basic .NET) và VB.NET chỉ là một trong 25 ngôn ngữ .NET hiện nay được dùng để phát triển các trang ASP.NET mà thôi.

Tuy mang họ tên gần giống như ASP cổ điển nhưng ASP.NET không phải là ASP. Ta sơ lược ở đây vài khác biệt giữa ASP.NET và ASP để bạn có khái niệm tổng quát và sẽ tŕnh bày thêm chi tiết khi đào sâu vào từng điểm đặc trưng (features) của ASP.NET ở từng bài học một.

KHÁC BIỆT GIỮA ASP.NET VÀ ASP


ASP.NET được phác thảo (re-design) lại từ số không, nó được thay đổi tận gốc rễ và phát triển (develop) phù hợp với yêu cầu hiện nay cũng như vạch một hướng đi vững chắc cho tương lai Tin Học. Lư do chính là Microsoft đă quá chán năn trong việc thêm thắt và kết hợp các công dụng mới vào các kiểu mẫu lập tŕnh hay thiết kế mạng theo kiểu cổ điển nên Microsoft nghĩ rằng tốt nhất là làm lại một kiểu mẫu hoàn toàn mới thay v́ vá víu chổ này chổ nọ vào ASP. Đó là chưa kể đến nhiều phát minh mới ra đời sau này dựa trên các khái niệm mới mẽ theo xu hướng phát triển hiện nay của công nghệ Tin Học (Information Technology) cần được đưa vào kiểu mẫu phát triển mới đó. Nhờ vậy, ta mới có thể nói ... khơi khơi ASP.NET không phải là ASP. Thật vậy , ASP.NET cung cấp một phương pháp hoàn toàn khác biệt với phương pháp của ASP.

Lưu ư:
Mặc dù ASP.NET và ASP khác biệt nhau nhưng chúng có thể hoạt động vui vẽ hài hoà với nhau trong Web Server của bạn (operate side-by-side). Do đó, khi bạn cài ASP.NET engine, bạn không cần lập tŕnh lại các ứng dụng hiện có dưới dạng ASP của bạn tuy rằng, nếu muốn, bạn có thể làm điều đó rất dễ dàng.

SỰ THAY ĐỔI CƠ BẢN
ASP đă và đang thi hành sứ mạng được giao cho nó để phát triển mạng một cách tốt đẹp như vậy th́ tại sao ta cần phải đổi mới hoàn toàn? Lư do đơn giản là ASP không c̣n đáp ứng đủ nhu cầu hiện nay trong lănh vực phát triển mạng của công nghệ Tin Học. ASP được thiết kế riêng biệt và nằm ở tầng phiá trên hệ điều hành Windows và Internet Information Server, do đó các công dụng của nó hết sức rời rạt và giới hạn.

Trong khi đó, ASP.NET là một cơ cấu trong các cơ cấu của hệ điều hành Windows dưới dạng nền hay khung .NET (.NET framework), như vậy ASP.NET không những có thể dùng các object của các ứng dụng cũ mà c̣n có thể xử dụng tất cả mọi tài nguyên mà Windows có, dễ dàng như ... ăn cơm tấm b́ sườn chả vậy.

Ta có thể tóm tắc đại khái sự thay đổi như sau:

Tập tin của ASP.NET (ASP.NET file) có extension là .ASPX, c̣n tập tin của ASP là .ASP.
Tập tin của ASP.NET (ASP.NET file) được phân tích ngữ pháp (parsed) bởi XSPISAPI.DLL, c̣n tập tin của ASP được phân tích bởi ASP.DLL.
ASP.NET là kiểu mẫu lập tŕnh phát động bằng sự kiện (event driven), c̣n các trang ASP được thi hành theo thứ tự tuần tự từ trên xuống dưới.
ASP.NET xử dụng tŕnh biên dịch (compiled code) nên rất nhanh, c̣n ASP dùng tŕnh thông dịch (interpreted code) do đó hiệu suất và tốc độ phát triển cũng thua sút hẳn.
ASP.NET yểm trợ gần 25 ngôn ngữ lập tŕnh mới với .NET và chạy trong môi trường biên dịch (compiled environment), c̣n ASP chỉ chấp nhận VBScript và JavaScript nên ASP chỉ là một scripted language trong môi trường thông dịch(in the interpreter environment). Không những vậy, ASP.NET c̣n kết hợp nhuần nhuyễn với XML (Extensible Markup Language) để chuyển vận các thông tin (information) qua mạng.
ASP.NET yểm trợ tất cả các browser và quan trọng hơn nữa là yểm trợ các thiết bị lưu động (mobile devices). Chính các thiết bị lưu động, mà mỗi ngày càng phổ biến, đă khiến việc dùng ASP tron gviệc phát triển mạng nhằm vươn tới thị trường mới đó trở nên vô cùng khó khăn.

PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC TRONG MẠNG

Internet đă và đang đem lại nhiều điều kỳ diệu cho đời sống của ta. Thật vậy, nó có khả năng 'nối ṿng tay lớn' mọi người trên thế giới tưởng chừng như cách biệt xa xôi ngàn dặm bổng dưng lại gần trong gang tất, kỹ thuật này đă mang lại biết bao nhiêu điều mới mẽ đến cho ta tỷ như e-mail, instant messaging hay World Wide Web (hay gọi tắc là WWW hay Web hay mạng) làm việc thông tin liên lạc trở nên dễ dàng, do đó con người cùng đời sống cũng thay đổi nhanh chóng như ...'cuốn theo chiều gió' vậy.

Từ khởi đầu, việc phát triển 1 mạng hết sức là đơn giản, chỉ cần một hay vài trang trong đó ta muốn chia sẽ bất cứ thông tin ǵ ta thích là chắc chắn cũng có người ghé qua thăm viếng. Tuy vậy, các trang trong thời kỳ khởi nguyên của mạng rất thụ động, nó không cho phép khách văng lai trao đổi thông tin một cách hổ tương (interact) với ta, nghĩa là thăm th́ có thăm nhưng không hỏi hay chia sẽ được ǵ với nhau.

Dần dà, mạng phát triển thêm nhiều công dụng khác nhau gắn thêm vào nào là h́nh ảnh, nào là tables, forms và cuối cùng có thể trao đổi thông tin hay tâm t́nh với khách văng lai qua các ứng dụng như guestbook, thăm ḍ ư kiến (user, customer hoặc là client poll) hay các diễn đàn với mọi tiết mục trên trời dưới đất. Sau đó, các chuyên gia phát triển mạng lại thêm thắt và trang điểm cho mạng của ḿnh càng lúc càng đặc sắc hơn, cùng muôn mầu muôn vẽ.

Tất cả những cố gắng đó đă đem tác động hổ tương đến giữa Web Master (hay nhóm quản lư mạng) và khách văng lai như ta được chứng kiến hiện nay, tuy vậy vẫn c̣n thiếu hẳn 1 phần quan trọng nhất là phần nội dung cơ động tuỳ biến (dynamic content). Do đó vai tṛ của phương pháp dịch vụ (server processing) được phát triển để có thể tŕnh bày nội dung được lưu trữ trong các cơ sở dữ liệu (database) tuỳ theo yêu cầu riêng biệt cho từng cá nhân.

KIỂU MẪU RESQUEST/RESPONSE
Kiểu mẫu này chính là toàn bộ phương pháp làm việc theo kiểu Client /Server hiện dùng với ASP.

Từ mới:
Client/Server - Một trường hợp đơn giản nhất là sự trao đổi thông tin giữa 2 máy vi tính để hoàn thành 1 công việc nào đó, trong đó máy server cung cấp dịch vụ theo yêu cầu của 1 máy khách hành (Client PC).

Thường thường, Server là máy vi tính lưu trữ thông tin về mạng trong đó có h́nh ảnh, video, những trang HTML hay ASP và Client là máy vi tính được dùng dể viếng thăm mạng. Một cách tổng quát phương pháp này gồm có 4 bước như sau:

Client (thông qua Internet Browser) xác định vị trí của Web Server qua 1 nối URL (Universal Resource Locator) ví dụ như [Only registered and activated users can see links]
Client sẽ yêu cầu được tham khảo 1 trang trong mạng đó và thường thường là trang chủ (home page) tỷ như index.htm hay default.htm
Server đáp ứng bằng cách hoàn trả hồ sơ mà Client đă yêu cầu trước đây
Client nhận được hồ sơ gởi về và hiển thị (display) trong browser của ḿnh
Lưu ư, một khi Client đă nhận được hồ sơ rồi là quá tŕnh trao đổi qua lại đó kết thúc ngay tức khắc. Sau đó, Server và Client trở thành ... ngựi xa lạ, coi như là chưa từng bao giờ gặp gỡ nhau trước đây (stateless model).

KIỂU MẪU EVENT-DRIVEN
Kiểu mẫu event-driven này dùng với ASP.NET cũng tương tợ như là kiểu mẫu event-driven mà ta vẫn thường dùng trong khi lập tŕnh các ứng dụng với Visual Basic 6.

Trong kiểu mẫu này, Server sẽ không ngồi ... chơi xơi nước chờ Client yêu cầu tham khảo 1 trang nào đó trong mạng mà Server đă bố trí và kế hoạch sẵn trước tất cả mọi t́nh huống để có thể hành động kịp thời mỗi khi Client quyết định làm 1 điều ǵ đó. Ta gọi đó là 'response to your action', c̣n trong kiểu mẫu trước là 'response to your request', như vậy ASP.NET có thể phát hiện ra các hành động của Client để phản ứng cho thích hợp.

Đọc tới đây chắc bạn sẽ hỏi lại ngay rằng: 'Ủa, nhưng mà làm sao một Server nào đó, có thể ở tận đâu đâu bên kia địa cầu, lại biết được là ta đang gơ vài mẫu tự trong một hộp chữ hay là đang nhấp mũi chuột (click) vào button trong phần Guestbook hay Forum của ASPVN.Net để gởi đi một thông điệp làm quen với ASPVN.Net?'.

À, sở dỉ Server có thể làm được 'chuyện ... khó tin nhưng có thiệt đó' là dựa vào tiến tŕnh xử lư linh động ở Client (gọi là clever client-side processing) để thực hiện kiểu mẫu event-driven này của ḿnh. Tiến tŕnh xử lư ở Client xảy ra khi ta bố trí nguồn mă thích hợp mà Client có thể hiểu được trong các trang ta gởi về cho Client. Lưu ư là mặc dù các trang mạng (web page) ta đều chứa ở Server nhưng nguồn mă lại có thể được thực hiện và xử lư, hoặc ở Server hoặc ở Client (Server-Side processing và Client-Side processing) tuỳ theo cách ta bố trí. Thật vậy, ASP.NET không thể nào biết được chuyện ǵ sẽ xăy ra ở máy vi tính của bạn (Client PC) nhưng cũng nhờ vào tiến tŕnh xử lư linh động ở Client mà Server có thể tiến hành kiểu mẫu phát triển mạng mới theo phương pháp event-driven.

Nhớ là ta có thể chạy nguồn mă ở 2 chỗ khác nhau: hoặc là chạy ở Server (gọi là Server-side) hoặc là chạy ở Client (Client-side) và các nguồn mă ở 2 chỗ này hoàn toàn khác biệt và không có tác động hổ tương với nhau (no interact with each other). Điều đó có nghĩa là máy Client sẽ chịu trách nhiệm thi hành các nguồn mă được lập tŕnh dành cho ḿnh cũng như máy Server chỉ chạy các nguồn mă dành cho Server. Thông tin hay nội dung cần thiết ở Server sẽ được chuyển sang dạng HTML đơn giản (plain HTML) trước khi gởi đến cho Client, thường th́ nguồn mă dành cho Client cũng được chuyển đi dưới dạng 'plain text command' để thực hiện các hiệu ứng năng động (dynamic effect) ở máy Client, tỷ như thay đổi h́nh ảnh (image rollover) hay hiển thị một thông điệp (message box).

ASP.NET sẽ dùng các ngôn ngữ mới có tŕnh biên dịch (compiled languages) như C# hay VB.NET để soạn các nguồn mă trong các trang Web ở Server.

admin
05-17-2009, 07:03 PM
SƠ LƯỢC VỀ .NET FRAMEWORK
Sở dĩ có chữ .NET trong ASP.NET là v́ mọi chức năng ASP.NET có được là hoàn toàn dựa vào .NET framework, do đó ta cần phải hiểu thấu đáo kiến trúc hạ tầng của .NET framework để dùng ASP.NET một cách hiệu quả, trong đó quan trọng nhất là CLR và .NET Framework Class.

CLR (COMMON LANGUAGE RUNTIME)
CLR là môi trường được dùng để quản lư sự thi hành các nguồn mă (manage the execution of code) mà ta đă soạn ra và biên dịch (write and compile code) trong các ứng dụng. Tuy nhiên khi biên dịch nguồn mă, ta lại biên dịch chúng ra thành một ngôn ngữ trung gian gọi là Microsoft Intermediate Language (MSIL). Chính MSIL trung gian này là ngôn ngữ chung cho tất cả các ngôn ngữ .NET hiện có, do đó chắc bạn cũng đoán ra là ASP.NET cũng được biên dịch (compile) ra MSIL như mọi ai khác. Trong khi biên dịch như vậy, các ứng dụng cũng sản xuất ra những thông tin cần thiết để tự ... quảng cáo chính ḿnh, ta gọi những thông tin này là metadata. Đến khi ta chạy một ứng dụng, CLR sẽ tiếp quản (take-over) và lại biên dịch (compile) nguồn mă một lần nữa ra thành ngôn ngữ gốc (native language) của máy vi tính trước khi thi hành những công tác đă được bố trí trong nguồn mă đó. Ta có thể cảm thấy những việc bận rộn sau hậu trường đó khi phải chờ đợi 1 khoăng thời gian cần thiết để CLR chấm dứt nhiệm vụ của nó khi lần đầu phải biên dịch (compile) và hiển thị 1 trang Web, nhưng rồi mọi chuyện sẽ xuôi chèo mát mái, cuối cùng là ta có một tŕnh biên dịch (compiled code) để xử dụng rất hiệu quả.

.NET FRAMEWORK CLASSES

Điều quan trọng nhất mà ta cần phải nhớ là mọi thứ trong .NET đều là object, tỷ như các trang ASP.NET, các hộp thông điệp (message box) hay là nút bấm (button), tất cả đều là object cả. Các object đó được tổ chức lại thành từng nhóm riêng biệt như trong một thư viện để ta dễ dàng xữ dụng. Ta gọi các nhóm như vậy là namespaces, và ta sẽ dùng những namespace này để gọi hay nhập cảng (import) các class cần thiết cho ứng dụng của ḿnh.


CÀI ĐẶT ASP.NET

Để chạy trang ASP.NET, trước hết ta cần phải cài đặt thành công:

Internet Information Server (IIS) và bố trí Virtual Directory dùng trong khóa Tự Học ASP.NET của Vovisoft.
MS Visual Studio.NET - trong trường hợp này th́ MS Visual Studio.NET đă cài sẵn .NET Framework SDK cho ta dùng với ASP.NET hoặc là
.NET Framework Software Development Kit (SDK) - nếu ta không có MS Visual Studio.NET, ta có thể tải .NET Framework Software Development Kit (SDK) xuống tự do từ mạng [Only registered and activated users can see links] , với SDK, ta chỉ có thể dùng Notepad hoặc một Text Editor nào ta thích để phát triển trang ASP.NET mà thôi.
Nhớ là ASP.NET là kỹ thuật phát triển mạng ở phiá Server, do đó ta phải cần có Internet Information Server (hay thường được gọi đơn giản hơn là Web Server) để soạn (phát triển hay lập tŕnh) các trang về mạng cho khách văng lai ghé thăm cũng như tham khảo các thông tin liên hệ. Nhưng khác với các trang ASP cổ điển, Web Server sẽ không hiểu các trang ASP.NET nếu như ta quên hay bỏ sót không cài .NET Framework SDK hoặc không cài MS Visual Studio.NET, chính nhờ ở .NET Framework SDK mà ta có đầy đủ các công dụng và các object hay classes cần thiết cho các trang ASP.NET của ta.

CÀI INTERNET INFORMATION SERVER (IIS)
Internet Information Server (IIS) Version 5.0 là một sản phẩm 'cho không ... biếu không' của Microsoft khi ta mua MS Windows 2000 Professional hay MS Windows XP Professional. IIS chuyên trị về Web Server, qua đó ta có thể cung cấp các dịch vụ nói chung về mạng cho khách văng lai, mà dịch vụ về mạng th́ thiên h́nh vạn trạng, nhỏ xíu như từ cây kim sợi chỉ cho đến vĩ đại như phi thuyền, dăy Ngân Hà hay vũ trụ, đều có thể được bố trí đầy đủ thông tin hay các ứng dụng liên hệ cần thiết để đáp ứng nhu cầu của khách văng lai.

1. Để cài IIS Version 5.0 trong MS windows XP Professional, ta bắt đầu chọn:

Start, Settings, Control Panel, Add/Remove Programs và nhấp đơn (click) Add/Remove Windows Components, xong chọn Internet Information Server như sau:
[Only registered and activated users can see links]
2. Nếu ta nhấp đơn nút <Details>, ta có thể tự do lựa chọn thêm hay bớt các thành phần trong IIS, tỷ như ta có thể bố trí thêm File Transfer Protocol Service (FTP Server) để quản lư một cách hiệu quả hơn việc tải lên (upload) hay tải xuống (download) các hồ sơ (documents) hay tập tin (files).

3. Nhấp nút <Next>, Windows XP Professional sẽ thu thập các thông tin liên hệ và bắt đầu tiến tŕnh cài đặt IIS. Chỉ trong ṿng vài phút là ta đă có một Web Server ngon lành trong máy vi tính. Giờ đây, ta có thể tuyên bố là bạn đă trở thành một Web Master, mặc dù là Web Master ... 'bất đắc dĩ'. Xin đặc biệt chúc mừng tân Web Master, ít ra ta cũng đă trở thành Web Master chính máy vi tính của ta (Web Master của local host).

4. Để xác định việc cài thành công Web Server, ta có thể thử như sau:

Mở Browser của bạn, ví dụ như Microsoft Internet Explorer và gơ hàng chữ như sau vào hộp địa chỉ (Uniform Resource Locator) [Only registered and activated users can see links] hay [Only registered and activated users can see links]
À, mà tôi nghĩ đi nghĩ lại là tôi cũng tin tưỡng nơi bạn lắm nên tôi mới tiết lộ cho bạn biết là cantho chính là tên của máy vi tính của tôi đó (my Computer Name). Xin vui ḷng giữ kín dùm, nhớ đừng phổ biến trên mạng nhé, kẻo nhiều người ḍm ngó.

Sau khi ta nhấp nút <Enter>, trang mặc định (default page) của IIS sẽ hiển thị như sau:
[Only registered and activated users can see links]

Hết bài 1!

admin
05-17-2009, 07:05 PM
Bài 2 * quan trọng cần nắm giữ nguyên tắc *

BỐ TRÍ VIRTUAL DIRECTORY DÙNG TRONG KHÓA TỰ HỌC ASP.NET CỦA VOVISOFT
Trước khi ta có thể tạo ra và bố trí một virtual directory tên là VovisoftASPNET dùng trong khóa Tự Học ASP.NET này, ta phải làm một số việc như sau:

Tạo ra 1 sub folder Vovisoft ASPNET cho các bài tập (Exercises).
Vào (access) bên trong Web Server để kiểm tra hay quản lư các tài nguyên trong mạng.
Bố trí virtual directory VovisoftASPNET.
Chi tiết các bước theo thứ tự như sau:

1. Tạo ra một sub directory có tên là Vovisoft ASPNET cấu trúc ở drive D như sau: D:\Net\Vovisoft ASPNET, để ư là có một chỗ trống giữa 2 chữ Vovisoft và ASPNET. Tuy vậy, nếu bạn nhuyễn về IIS, bạn có thể đặt tên tùy thích và không nhất thiết phải theo y chang kiểu mẫu này, nhưng bạn phải hiểu việc bạn làm để bố trí một virtual directory thích hợp dùng thực hành các bài tập trong khóa sao cho thành công.


2. Có nhiều phương pháp vào (access) bên trong Web Server
trước khi bố trí virtual directory, ta có thể dùng MMC (Microsoft Management Console) để cộng thêm IIS snap-in vào console hoặc ta có thể chạy IIS bằng cách chọn: Start, Programs, Administartive Tools, Internet Information Service.

Phương pháp dùng MMC là phương pháp được các MCP (Microsoft Certified Professional) hay MCSE (Microsoft Certified System Engineer) ưa thích hơn v́ tính cách linh động mềm dẽo thích hợp cho việc quản lư các nguồn tài nguyên khác nhau trong mạng.

Dưới đây là h́nh đặc trưng cho việc dùng MMC:


Tuy nhiên, ta sẽ không đào sâu vào chi tiết việc xử dụng MMC để bố trí virtual directory cho khóa học ở đây mà ta sẽ dùng kiểu vào IIS trực tiếp qua việc chọn: Start, Programs, Administrative Tools, Internet Information Service như đă tŕnh bày ở trên. IIS sẽ hiển thị



3. Bố trí một virtual directory VovisoftASPNET:

Nhấp phải (right click) vào Default Web Site, chọn New, Virtual Directory:


Virtual Directory Creation Wizard sẽ bắt đầu tiến tŕnh bố trí:


Nhấp vào nút <Next> và gơ VovisoftASPNET ở hộp Alias:



Nhấp vào nút <Next> và dùng <Browse...> để chọn sub folder 'D:\NetVovisoft ASPNET' mà ta đă chuẩn bị trước đây cho các bài tập của khóa.


Chấp nhận các bố trí mặc định (default settings) cho virtual directory VovisoftASPNET và thêm vào đó quyền Write và Browse (mục đích là sau này có thể dùng MS Visual Studio.NET tạo ra các subdirectory cần thiết khi khai trương các dự án mới (create new ASP.NET Web Applications) trong virtual directory mà ta vừa thành lập. Nhấp <Next> và sau đó <Finish> để kết thúc tiến tŕnh bố trí.




Thế là ta đă có một virtual directory để phát triển các trang ASP.NET sau này. Bạn thấy đó! Việc tạo ra 1 virtual direcotry c̣n dễ dàng hơn là ăn ... tô tái nạm.


Hết bài 2!

admin
05-17-2009, 07:11 PM
Bài 3 : CÀI MS VISUAL STUDIO.NET


Lưu ư:
Khi cài MS Visual Studio.NET là ta cũng đă cài .NET Framework SDK, do đó ta không cần phải theo những chỉ dẩn về việc cài đặt .NET Framework SDK như tŕng bày ở bước kế tiếp.

CÀI .NET FRAMEWORK SOFTWARE DEVELOPMENT KIT (SDK)
Tuy ta có thể tải xuống miễn phí .NET Framework SDK ở mạng [Only registered and activated users can see links] nhưng lưu ư là SDK này gồm tổng cộng gần hơn 130 MBytes nên ta sẽ mất rất nhiều thời gian (khoăng 6, 7 giờ) để tải thành công trong trường hợp dùng 56 Kbps modem. Ngoài ra, thay v́ tải qua mạng, ta cũng có thể đặt mua SDK chứa trong CD-ROM hay truy cập SDK trong các CD-ROM biếu kèm với các tạp chí Tin Học.

Một khi đă có .NET Framework SDK rồi, ta chỉ cần chạy chương tŕnh setup là xong. Tiến tŕnh này cũng sẽ rất lâu v́ Windows sẽ khai mở từng tập tin một cũng như thu thập các thông tin cần thiết cho việc bố trí .NET Framework ở máy của ta, do đó tốt hơn hết là ta ... tà tà tự pha cho ḿnh một ly cà phê ...

TẠO TRANG ASP.NET ĐẦU TIÊN
Mặc dầu trang ASP.NET thuần túy chỉ chứa đựng chữ và ... chữ (pure text) như trang về HTML nhưng đâu ai cấm ta dùng MS Visual Studio.NET để soạn các trang ASP.NET và qua đó xử dụng giao diện bằng h́nh (Graphic User Interface - GUI) để việc bố trí hay phát triển thêm phần dễ dàng và linh động.

Lưu ư là phần nối thêm (extension) ở trang SP.NET sẽ mang tên .aspx để phân biệt với .asp trong ASP cổ điển. Ta sẽ tạo trang ASP.NET đầu tiên bằng 2 phương pháp như sau:

Dùng MS Visual Studio.NET để tạo trang ASP.NET đầu tiên.
Dùng Notepad để tạo trang ASP.NET đầu tiên.
Bài tập 1: Dùng MS Visual Studio.NET để tạo trang ASP.NET đầu tiên.

Mục đích:
Hiển thị hàng chữ "Welcome to Khóa Tự Học ASP.NET" trong trang ASP.NET đầu tiên để chào mừng các bạn đến với khóa học này của Vovisoft.

Các bước thứ tự như sau:

1. Chạy MS Visual Studio.NET và chọn dự án mới (New Project) như sau:


Project Types: Visual Basic Projects
Templates: ASP.NET Web Application
Name: vs-welcome
Location: [Only registered and activated users can see links]
Ta nên nhớ kiểm tra hàng chữ phía dưới hộp Location để coi lại xem dự án được tạo ra ở đúng chỗ mà ta muốn chứa hay là không? Chính hàng này cũng là URL (Uniform Resource Locator) ta cần phải điền vào ở hộp địa chỉ (Address) trong Internet Explorer để hiển thị trang ASP.NET với phần nối thêm (extension) là .aspx


Lưu ư:
Như đă tŕnh bày, chúng ta sẽ không đào sâu chi tiết về cách xữ dụng MS VS.NET ở đây..

2. Nhấp vào nút <OK> để MS VS.NET tạo ra 1 dự án mới.
Nếu để ư, ta sẽ thấy một trang ASP.NET được tạo ra một cách mặc định (default) với tên là WebForm1.aspx nằm trong Solution Explorer Windows về mé tay phải, bên trái ta có 1 hộp dụng cụ (Toolbox) và ở giữa là View Designer

3. Mở hộp dụng cụ (Toolbox) và nhấp đôi vào công cụ Label, một cách thông dụng khác là ta có thể kéo lê (drag) công cụ Label vào trong View Designer.

4. Bố trí các đặc tính của công cụ Label đó như sau:


Lưu ư ở đây là ta sẽ dùng ứng dụng VPSKEY Version 4.1 với bảng mă Unicode để gơ tiếng Việt cho đặc tính Text của Label tên lblWelcome như h́nh trên. Ta có thể dùng bất cứ ứng dụng gơ tiếng Việt nào cho phép encoding với Unicode, nếu dùng VPSKeys Version 4.0 th́ bạn cần phải bố trí như sau:

5. Chọn File, Save WebForm1.aspx As để lưu trữ vào đĩa cứng, nhớ chọn Save with Encoding (hay ta có thể dùng Advanced Save Options) với Encoding là Unicode (UTF-8 with signature) - Codepage 65001 để lưu trữ (save) tiếng Việt chính xác.

6. Cuối cùng ta sẽ dùng IE Client Browser để hiển thị trang WebForm1.aspx. Trong hộp địa chỉ (Address), lưu ư là:

[Only registered and activated users can see links] chính là virtual directory mà ta đă tạo ra trong Server CANTHO
BaiHoc/Bai01/vs-welcome là các subdirectory ở dưới virtual directory đó
webform1.aspx là trang web mà ta vừa soạn với MS VS.NET

Tới đây là ta có thể ... tự chúc mừng chính ḿnh v́ đă phát triển 1 trang ASP.NET ở Server và trưng bày trang đó thành công ở Client Browser.

Bài tập 2: Dùng Notepad để tạo trang ASP.NET đầu tiên.

Mục đích:
Ở bài tập 2, ta cũng hiển thị hàng chữ "Welcome to Khóa Tự Học ASP.NET" trong trang ASP.NET để chào mừng các bạn đến với khóa học này của Vovisoft. Tuy nhiên, ở bài tập này, ta chỉ dùng Notepad để tạo ra 1 trang ASP.NET y chang như trang ở trên.

1. Chạy ứng dụng Notepad và gơ những hàng chữ lập tŕnh y chang như trong h́nh dưới đây. Trong bài học 1, ta tạm thời chấp nhận các mệnh lệnh và cú pháp trong trang ASP.NET đầu tiên này và sẽ tham khảo chi tiết cũng như phân tích và giải thích về phương pháp xây dựng trang ASP.NET ở bài học kế tiếp. Nhớ khi gơ tiếng Việt ta sẽ dùng VPSKeys Version 4.0 như trong bài tập 1.

2. Đặt tên tập tin (file) này là np-welcome.aspx và lưu trữ (save as) với encoding UTF-8 (UTF-8 là chữ viết tắc của Universal Transform Format-8) dưới subdirectory D:\Net\Vovisoft ASPNET\BaiHoc\Bai01\np-welcome

3. Hiển thị trang ASP.NET đầu tiên này với IE Client Browser và gơ hàng chữ dưới đây vào hộp địa chỉ (Address): [Only registered and activated users can see links] rồi nhấp vào nút <Enter>. Ta sẽ có 1 trang ASP.NET với hàng chữ Welcome to Khóa Tự Học ASP.NET

Hết Bài 3 !